|
Thực hiện Luật Cán bộ, công chức, ngày 17/5/2011 Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2011/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức; theo các văn bản quy định này việc xử lý kỷ luật đối với công chức có một số điểm mới cần lưu ý như sau:
1. Về hình thức kỷ luật:
Pháp lệnh cán bộ, công chức và Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức quy định 6 hình thức kỷ luật chung cho cả cán bộ và công chức nay theo quy định mới (Luật cán bộ, công chức và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP) quy định riêng cụ thể các hình thức kỷ luật đối với cán bộ và hình thức kỷ luật đối với công chức:
Đối với cán bộ, có 04 hình thức kỷ luật là: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (áp dụng đối với cán bộ được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ) và bãi nhiệm.
Đối với công chức, có 04 hình thức kỷ luật đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc; đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có 06 hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Như vậy, quy định mới (Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP) đã quy định rõ các hình thức kỷ luật phù hợp đối với công chức không giữ và có giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đồng thời bỏ hình thức kỷ luật hạ ngạch và thêm hình thức kỷ luật giáng chức; đây là hình thức kỷ luật được bổ sung đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bị xuống chức ở mức thấp hơn khi chưa đến mức bị cách chức nhằm tạo điều kiện cho công chức giữ chức vụ khi vi phạm kỷ luật tiếp tục phấn đấu, khắc phục sai phạm.
2. Về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật:
Pháp lệnh Cán bộ, công chức không quy định thời hiệu xử lý kỷ luật cán bộ, công chức. Tuy nhiên, tại Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức có quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là 03 tháng, tính từ khi phát hiện hành vi vi phạm đến khi Hội đồng kỷ luật họp.
Một điều khác biệt cơ bản so với trước đây là theo quy định mới thì thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm công chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến thời điểm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật; khi hết thời hạn đó thì cán bộ, công chức vi phạm không bị xem xét xử lý kỷ luật; trong thời hạn 02 tháng, kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định xử lý kỷ luật, đối với trường hợp liên quan đến vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 04 tháng.
3. Về việc tổ chức kiểm điểm công chức vi phạm:
Nghị định số 35/2005/NĐ-CP trước đây quy định người đứng đầu cơ quan tổ chức, đơn vị sử dụng cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức cuộc họp để người vi phạm kiểm điểm trước tập thể cơ quan đơn vị chưa phù hợp với những cơ quan đơn vị có đơn vị công tác cấu thành nay theo quy định mới: Việc tổ chức cuộc họp kiểm điểm được tiến hành đối với các trường hợp có thành lập Hội đồng kỷ luật và không thành lập Hội đồng kỷ luật. Việc tổ chức cuộc họp kiểm điểm được tiến hành như sau:
Trường hợp cơ quan sử dụng công chức có đơn vị công tác cấu thành thì tổ chức cuộc họp kiểm điểm với thành phần dự họp là toàn thể công chức của đơn vị công tác cấu thành. Cuộc họp kiểm điểm của cơ quan sử dụng công chức có hành vi vi phạm pháp luật được tổ chức với thành phần dự họp là đại diện lãnh đạo chính quyền, cấp ủy và công đoàn của cơ quan sử dụng công chức;
Trường hợp cơ quan sử dụng công chức không có đơn vị công tác cấu thành thì tổ chức cuộc họp kiểm điểm với thành phần dự họp là toàn thể công chức của cơ quan sử dụng công chức.
4. Về trường hợp không thành lập Hội đồng kỷ luật:
Pháp lệnh Cán bộ công chức quy định việc kỷ luật đối với cán bộ công chức phải được hội đồng kỷ luật của cơ quan, tổ chức sử dụng cám bộ công chức xem xét và đề nghị cơ quan có thẩm quyền quyết định trừ trường hợp bị Tòa án phạt tù mà không được hưởng án treo; nay theo quy định mới bổ sung thêm trường hợp không phải thành lập Hội đồng kỷ luật đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bị xem xét xử lý kỷ luật khi đã có kết luận về hành vi vi phạm pháp luật của cấp ủy, tổ chức Đảng theo quy định phân cấp quản lý cán bộ, công chức của Ban Chấp hành Trung ương.
5. Về thời gian kéo dài nâng lương cho cán bộ, công chức bị kỷ luật:
Theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức thì cán bộ, công chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức sẽ phải kéo dài thời gian nâng bậc lương thêm 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực.
Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức: cán bộ, công chức bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo thì thời gian nâng lương chỉ bị kéo dài thêm 06 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; nếu bị giáng chức, cách chức thì thời gian nâng lương bị kéo dài thêm 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực.
6. Về việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử:
Pháp lệnh Cán bộ, công chức quy định trong thời gian đang bị xem xét kỷ luật, cán bộ, công chức có thể bị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý ra quyết định tạm đình chỉ công tác, thời hạn tạm đình chỉ không quá mười lăm ngày, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá ba tháng, hết thời hạn tạm đình chỉ công tác, nếu không bị xử lý thì cán bộ, công chức được tiếp tục làm việc. Tại Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định trường hợp cán bộ, công chức liên quan đến vụ việc đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử thì thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật được tính từ ngày phán quyết của Toà án về hành vi vi phạm của cán bộ, công chức có hiệu lực pháp luật. Như vậy, có thể hiểu trong trường hợp cán bộ, công chức bị các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử thì chưa tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật (tức là chưa thuộc trường hợp đang bị xem xét kỷ luật) nên không thể áp dụng quy định về tạm đình chỉ công tác nêu tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức, hơn nữa thời gian tạm đình chỉ công tác theo quy định tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức thường ít hơn rất nhiều so với thời gian tạm giam, tạm giữ để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. Chính điều này đã gây nên sự lúng túng trong việc áp dụng quy định của pháp luật để tạm đình chỉ cán bộ, công chức trong trường hợp này.
Nhận thấy được vấn đề trên, để hoàn thiện cơ sở pháp lý áp dụng trong trường hợp này, Luật Cán bộ, công chức đã quy định cụ thể việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử: nếu cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử thì thời gian tạm giữ, tạm giam được tính là thời gian nghỉ việc có lý do, trong thời gian này cán bộ, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ./.
Chí Thanh
|