| Chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức - Những bất cập và vướng mắc |
|
|
|
| Tin tức |
| Thứ hai, Ngày 16 Tháng 07 Năm 2012 07:59 |
|
1. Về chính sách của Nhà nước, cụ thể là Nghị định 158/2007/NĐ-CP - Việc chuyển đổi đối với một số vị trí công tác chưa sát hợp với điều kiện thực tế của từng ngành, từng cấp, từng địa phương, đơn vị. Có trường hợp các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ có một vị trí trong danh mục định kỳ chuyển đổi vị trí công tác, mà vị trí này có yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ khác với các vị trí khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó nên rất khó, thậm chí không thể thực hiện được việc chuyển đổi; - Các danh mục cụ thể của các ngành chuyên môn chưa được ban hành đầy đủ nên tạo ra những khó khăn nhất định trong việc triển khai, xây dựng cụ thể danh mục các vị trí công tác phải thực hiện định kỳ chuyển đổi ở các cơ quan, đơn vị, địa phương; - Thời hạn chuyển đổi vị trí công tác theo quy định (36 tháng) chưa phù hợp với tính chất ngành nghề, vị trí công tác đòi hỏi chuyên môn sâu, nhiều kinh nghiệm. Cán bộ, công chức, viên chức chưa có điều kiện, thời gian am hiểu sâu và phát huy năng lực chuyên môn tại vị trí công tác được chuyển đổi song đến thời hạn lại phải chuyển đổi sang vị trí công tác khác. Mặt khác, có những công việc đặc thù nhạy cảm, dễ xảy ra tiêu cực, tham nhũng đòi hỏi thời gian chuyển đổi phải ngắn hơn, không nhất thiết phải đủ 36 tháng. Như vậy sẽ gây không ít khó khăn trong công tác cũng như làm xáo trộn sự ổn định trong cơ quan, đơn vị; - Một số vị trí công tác dễ gây ra tham nhũng (lãnh đạo, quản lý ngành Kiểm lâm, Quản lý thị trường …) cần được chuyển đổi nhưng không thuộc đối tượng chuyển đổi vị trí công tác theo Nghị định 158/2007/NĐ-CP. Trong khi đó vẫn chưa có chủ trương, chính sách cụ thể áp dụng đối với các đối tượng này. Đây cũng là một trở ngại trong công tác luân chuyển cán bộ nói chung; - Chưa có chính sách khuyến khích, động viên cán bộ chuyển đổi vị trí công tác, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Điều này tạo tâm lý bất ổn định công tác của cán bộ, công chức, viên chức. 2. Thực tế triển khai thực hiện của các cơ quan, đơn vị, địa phương - Một số cơ quan, đơn vị, địa phương cũng như cán bộ, công chức, viên chức chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, mục đích của việc chuyển đổi vị trí công tác nên việc triển khai thực hiện còn chậm, chưa có sự nhất quán và kiên quyết, chưa sát với thực tế, thiếu chủ động, thiếu kiểm tra, đôn đốc. Nhiều nơi xây dựng kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác nhưng thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng với kế hoạch đề ra; chưa thực hiện đầy đủ việc công khai kế hoạch chuyển đổi trong nội bộ cơ quan, đơn vị … Một trong những nguyên nhân dẫn đến hệ quả trên là nhiều cán bộ, công chức, viên chức làm việc ở những lĩnh vực dính dáng đến quyền lợi như đất đai, tài chính... có tâm lý ngại chuyển đổi. Trong khi đó, bản thân một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị, khi được yêu cầu lên kế hoạch chuyển đổi ở đơn vị mình lại có thái độ né tránh, do ngại đụng chạm đến cấp dưới; - Phần lớn các cơ quan, đơn vị, địa phương chưa xác định đúng đối tượng áp dụng thực hiện chuyển đổi vị trí công tác. Đối tượng áp dụng theo quy định tại Nghị định 158/2007/NĐ-CP là cán bộ, công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đang công tác tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Tuy nhiên, trong thực tế kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác của nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương bao gồm cả đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (người được bầu cử hoặc được người có thẩm quyền bổ nhiệm giữ chức vụ có thời hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và được hưởng phụ cấp lãnh đạo). Do đó, những số liệu thống kê về kết quả thực hiện Nghị định 158/2007/NĐ-CP trong thời gian qua là thiếu chính xác; - Công tác quy hoạch, dự nguồn cán bộ để thực hiện chuyển đổi vị trí chưa được quan tâm đúng mức nên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong quá trình thực hiện. Nhiều cơ quan, đơn vị bị hụt hẫng, không có nguồn cán bộ để thay thế, chuyển đổi kịp thời; - Việc chuyển đổi vị trí công tác giữa các trường học thuộc ngành giáo dục và giữa các xã, phường thuộc UBND quận, huyện tương đối thuận lợi. Còn lại phần lớn, các vị trí công tác được chuyển đổi chủ yếu giữa các phòng, ban trong cùng một cơ quan, đơn vị, địa phương, thậm chí chỉ đơn giản là việc hoán đổi công việc giữa các công chức, viên chức trong cùng một phòng, ban với nhau. Chuyển đổi vị trí giữa các cơ quan, đơn vị, giữa các cấp, các ngành hầu như chưa được thực hiện. Định kỳ chuyển đổi vị trí công tác là một trong những biện pháp phòng, ngừa tham nhũng. Vì vậy, để công tác này thực sự phát huy hiệu quả, tác dụng trong công tác quản lý, sử dụng cán bộ nói chung, thiết nghĩ các cơ quan Trung ương cần có những điều chỉnh, bổ sung cũng như ban hành kịp thời các văn bản quy định cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tiễn về danh mục các vị trí chuyển đổi; thời hạn chuyển đổi; chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức thuộc diện chuyển đổi... Bên cạnh đó, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương cần nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc triển khai thực hiện công tác này một cách nghiêm túc, triệt để./. Phan Thị Thanh Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|













Ngày 27/10/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2007/NĐ-CP quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức. Như vậy, Nghị định đã có hiệu lực thi hành gần 5 năm nay, song qua tìm hiểu, nghiên cứu quá trình triển khai thực hiện tại các địa phương trên cả nước cũng như qua công tác thanh tra, kiểm tra thực tế tại các cơ quan, đơn vị thuộc UBND thành phố Đà Nẵng cho thấy công tác này vẫn còn không ít những bất cập, vướng mắc. Có thể xem xét những bất cập, vướng mắc từ 02 khía cạnh chính: chính sách của Nhà nước và thực tế triển khai thực hiện của các cơ quan, đơn vị, địa phương.



.jpg)






.gif)




