Sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng trong công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức
Người đăng tin: Admin Nội vụ Ngày đăng tin: 20/12/2019 Lượt xem: 120


Ngày 25/11/2019, Quốc hội đã ban hành Luật số 52/2019/QH14 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Trong đó sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng liên quan đến việc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể như sau:

1. Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội không còn là công chức

Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”

Như vậy, thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập không còn là công chức như quy định trước đây (trừ các trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định). Người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định là công chức theo quy định của Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành mà không còn là công chức theo quy định của Luật này và không thuộc trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ thì tiếp tục thực hiện chế độ, chính sách và áp dụng các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức cho đến hết thời hạn bổ nhiệm giữ chức vụ đang đảm nhiệm.

2. Cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ

Chính phủ và người đứng đầu các cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức quyết định chế độ trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do cấp tỉnh quản lý.

Quy định này đảm bảo phát huy quyền của các bộ, ngành, địa phương; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc trọng dụng những người có tài năng trong hoạt động công vụ.

3. Thống nhất quy định về các mức xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức

Theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008, mức xếp loại chất lượng của cán bộ, công chức bao gồm: “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và không hoàn thành nhiệm vụ”. Tại Luật số 52/2019/QH14, Quốc hội đã điều chỉnh mức xếp loại cán bộ, công chức từ “hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực” thành “hoàn thành nhiệm vụ” để thống nhất với quy định về mức xếp loại viên chức theo quy định tại Luật Viên chức.

Cán bộ có 02 năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền miễn nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ. Công chức có 02 năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ bị buộc thôi việc.  Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có 02 năm không liên tiếp trong thời hạn bổ nhiệm được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ thì bố trí công tác khác hoặc không bổ nhiệm lại. Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong 03 năm có 02 năm không liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí việc làm đang đảm nhận thì bố trí vào vị trí việc làm có yêu cầu thấp hơn.

4. Bổ sung quy định về xét nâng ngạch công chức

Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức 2008, việc nâng ngạch phải căn cứ vào vị trí việc làm, phù hợp với cơ cấu công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị và thông qua thi tuyển.

Tuy nhiên, bên cạnh hình thức thi nâng ngạch, Luật số 52/2019/QH14 bổ sung hình thức xét nâng ngạch công chức. Công chức được xét nâng ngạch phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

- Được xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong năm công tác liền kề trước năm dự thi nâng ngạch; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; không trong thời hạn xử lý kỷ luật, không trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật quy định tại Điều 82 của Luật này;

- Có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhận vị trí việc làm tương ứng với ngạch công chức cao hơn ngạch công chức hiện giữ trong cùng ngành chuyên môn;

- Đáp ứng yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ của ngạch công chức đăng ký dự thi;

- Có thành tích xuất sắc trong hoạt động công vụ trong thời gian giữ ngạch công chức hiện giữ, được cấp có thẩm quyền công nhận hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gắn với yêu cầu của vị trí việc làm.

5. Tăng thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức

Theo quy định trước đây, thời hiệu xử lý kỷ luật được thống nhất chung là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm. Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 04 tháng.

Quy định mới đã tăng thời hiệu, thời hạn xử lý theo mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm kỷ luật như sau:

Thời hiệu xử lý kỷ luật là 02 năm đối với hành vi vi phạm ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách; 05 năm đối với hành vi vi phạm có nghiêm trọng ở mức cao hơn, phải kỷ luật bằng các hình thức trên mức khiển trách. Cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; hành vi vi phạm quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại; sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả hoặc không hợp pháp thì không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật.

Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 90 ngày; trường hợp vụ việc có tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng không quá 150 ngày.

6. Điều chỉnh loại hình hợp đồng làm việc đối với viên chức

Theo quy định tại Luật 2019, viên chức được tuyển dụng kể từ ngày 01/7/2020 được ký kết hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ 12 đến 60 tháng.

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn chỉ còn áp dụng đối với các trường hợp sau đây:

- Viên chức được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2020;

- Cán bộ, công chức chuyển sang làm viên chức theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 58 của Luật này;

- Người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Viên chức được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2020 nhưng chưa ký kết hợp đồng làm việc không xác định thời hạn thì tiếp tục thực hiện hợp đồng làm việc đã ký kết; sau khi kết thúc thời hạn của hợp đồng làm việc đã ký kết thì được ký kết hợp đồng làm việc không xác định thời hạn nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật. Như vậy, hình thức “biên chế suốt đời” của viên chức cơ bản được bãi bỏ.

Đối với hợp đồng làm việc xác định thời hạn, trước khi hết hạn hợp đồng làm việc 60 ngày, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký kết tiếp hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức. Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập còn nhu cầu, viên chức đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải ký kết tiếp hợp đồng làm việc với viên chức. Trường hợp không ký kết tiếp hợp đồng làm việc với viên chức thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải nêu rõ lý do bằng văn bản.

7. Bổ sung đối tượng được hưởng chế độ thôi việc

 Viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm khi đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức, hết thời hạn của hợp đồng nhưng người sử dụng lao động không ký kết tiếp hợp đồng làm việc, viên chức đơn phương chấm dứt hợp đồng do ốm đau, bị tai nạn theo quy định tại khoản 4 Điều 29 hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 29 của Luật Viên chức, trừ trường hợp bị kỷ luật buộc thôi việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm quy định tại khoản 4, 5, 6 Điều 29 Luật Viên chức; chấm dứt hợp đồng làm việc do được bổ nhiệm các chức vụ mà pháp luật quy định là công chức hoặc có quyết định nghỉ hưu.

Ngoài một số nội dung thay đổi chính nêu trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức cũng quy định thêm các nội dung liên quan đến các thuật ngữ sử dụng trong quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức; quy định thêm thẩm quyền của Chính phủ và các cơ quan có liên quan trong việc hướng dẫn, triển khai các nội dung của Luật…

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020./.

Huyền Trang


Tìm kiếm

Quản lý video Quản lý video

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 0 4 2 9 3 1 2 2
Hôm nay: 432
Hôm qua: 6.480
Tuần này: 12.919
Tháng này: 6.912
Tổng cộng: 4.293.122

LIÊN KẾT WEBSITE LIÊN KẾT WEBSITE

               

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ NỘI VỤ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: Tầng 10 Trung tâm Hành chính thành phố Đà Nẵng, 24 Trần Phú, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0236 3821253     Fax: 0236 3829900    E-mail: snv@danang.gov.vn

Ghi rõ nguồn phát hành https://noivu.danang.gov.vn khi sử dụng nội dung từ website này

Giấy phép số: 401/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 09/10/2014

Đăng nhập/a>