Ngày xuân, nghĩ về việc trọng dụng nhân tài của người xưa
Người đăng tin: Ngày đăng tin: 08/02/2019 Lượt xem: 36


Dân tộc Việt Nam ta, ông cha ta vốn có truyền thống trọng dụng và đãi ngộ nhân tài. Năm 1442, Thân Nhân Trung đã có một câu nói bất hủ với ý tưởng sáng suốt mà triết lý thì sâu sắc, còn mãi với muôn đời: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết"[1].

 

Từ xưa, ông cha ta đã chú trọng đến việc tuyển dụng, sử dụng nhân tài. Việc tuyển dụng, sử dụng nhân tài có hệ thống và quy củ ở nước ta bắt đầu từ thời nhà Lý. Năm 1070, vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng trường đại học đầu tiên, đó là Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Lúc đầu, Văn Miếu - Quốc Tử Giám chỉ đào tạo người tài trong số con em tầng lớp quý tộc, sau đó, đào tạo những người thi tuyển tài năng và đỗ đạt của mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt địa vị xã hội, sang hèn. Đến năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Minh kinh bác học đầu tiên để tuyển chọn nhân tài ra làm quan. Đối với các triều đại phong kiến Việt Nam, tuyển chọn nhân tài có nhiều cách, nhưng việc tuyển chọn tốt nhất, công bằng nhất là tổ chức các khoa thi. Các khoa thi được tổ chức thường xuyên, ngày càng nghiêm túc và chặt chẽ; trở thành cơ chế tuyển chọn nhân tài chủ yếu cho bộ máy cai trị ở trung ương và các cấp địa phương.

 

Ngoài hình thức thi tuyển, ông cha ta còn sử dụng hình thức tiến cử nhằm không để sót nhân tài, vì lý do nào đó đã không thể tham gia các kỳ thi. Thực hiện hình thức tuyển chọn quan lại này, nhiều ông vua đã ban "Chiếu cầu người hiền tài", khuyến khích các quan lại tiến cử người tài. Điển hình là Thái tổ Lê Lợi. Sau khi đánh đuổi hoàn toàn giặc Minh, lên ngôi vua mới hơn một năm, Thái tổ Lê Lợi đã nhận ra sự thiếu hụt nhân tài trong giai đoạn mới của triều đại, nên ngày mồng 1/10 âm lịch năm 1429, ông đã ban hành tờ chiếu với nội dung sau: "Trẫm nghĩ, muốn thịnh trị, phải được người hiền tài; muốn được người hiền tài, phải do tiến cử. Người đứng đầu thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên (...). Vậy ra lệnh cho đại thần văn võ, công hầu đại phu từ tam phẩm trở lên, mỗi người tiến cử một người, ở trong triều hay ngoài thôn dã, đã làm quan hoặc chưa làm quan (...). Ai tiến cử được người hiền sẽ được tưởng thưởng". Chiếu viết tiếp: "Nếu có ai ôm ấp tài lược kinh bang tế thế, nhưng vẫn phải chịu khuất ở hàng quan thấp, không có người tiến cử cho, cùng là những người hào kiệt còn bị vùi dập ở bụi bờ hay lẫn lộn trong quân ngũ, nếu không tự đề đạt thì trẫm làm sao biết được? Vậy nên từ nay về sau, các bậc quân tử có ai muốn theo ta, đều cho tự tiến cử". Hình thức tự tiến cử này khá giống như việc nộp đơn ứng tuyển vào các chức danh chuyên môn, lãnh đạo, quản lý hiện nay đã và đang làm. Phương pháp tiến hành phải khách quan, dân chủ, công khai, thưởng phạt nghiêm minh. Ai tiến cử người kém, tham lam, gây hậu quả xấu, phải chịu trách nhiệm liên đới. Để khắc phục tình trạng quan lại "tiến cử bừa" nhằm tạo phe cánh và tham nhũng, các ông vua quy định, nếu quan lại nào tiến cử đúng người hiền tài thì được triều đình khen thưởng, ngược lại thì bị phạt rất nặng. Nhờ có lòng yêu kẻ sỹ, trọng dụng nhân tài mà không ít vua quan ở nước ta đã không ngần ngại cất nhắc, sử dụng nhân tài, không căn cứ vào hoàn cảnh xuất thân và địa vị xã hội sang - hèn của họ.

 

Ở thế kỷ thứ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng xác định các nhân tố của phát triển xã hội, đã phát hiện ra những dấu hiệu của sự thịnh suy, trong đó ông đặc biệt chú ý tới kẻ sĩ, trí thức hiền tài. Theo ông, một xã hội bình yên thịnh vượng thì không thể thiếu, không được xem nhẹ Nông - Công - Thương - Trí. Theo đó, "phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt và phi trí bất hưng". Ông cũng chỉ rõ, triều chính và người cầm quyền không được để quốc gia rơi vào suy thoái, đổ vỡ. Nếu để xảy ra tình trạng "trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt" thì xã hội tất sẽ rối loạn, suy đồi, đổ vỡ.

 

Vua Quang Trung cũng là một minh họa về việc chiêu mộ nhân tài. Sau khi đại thắng quân Thanh (Kỷ Dậu - 1789), vua Quang Trung ban bố ngay "Chiếu cầu hiền", và là người hết sức khiêm tốn, tôn trọng và khoan dung, độ lượng với các bậc hiền tài, nên nhiều sĩ phu thức thời đã một lòng một dạ phò tá nhà vua như: Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích…

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kế tục và phát huy tới đỉnh cao nhân cách và bản lĩnh sử dụng người tài của ông cha ta trong chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đào tạo cán bộ là công việc gốc của Đảng. Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, trong lúc còn bộn bề khó khăn, thù trong, giặc ngoài, Bác đã quan tâm tìm người tài để xây dựng đất nước và Người chính là tấm gương sáng cho việc tìm nhân tài và trọng dụng nhân tài. Ngày 14/11/1945, trên báo Cứu quốc, Bác đã viết: "Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức khác nhau về xuất thân, địa vị xã hội nhưng họ đều là những trí thức có tâm huyết xây dựng nước Việt Nam mới. Họ đều chung một ý chí, đó là đoàn kết dân tộc chung tay góp sức xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập dân tộc.

 

Ngày 20/11/1946, 8 tháng sau khi bầu Chính phủ hợp pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bầu ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh người đứng đầu Chính phủ công bố trước quốc dân đồng bào và lệnh cho chính quyền các địa phương trong toàn quốc phải làm ngay việc "Tìm người tài đức". Người khẳng định: Nước nhà cần phải kiến thiết, kiến thiết cần phải có nhân tài. Người chỉ rõ hãy tin và hãy tìm người tài đức ở ngay trong đồng bào mình, không phân biệt nguồn gốc xuất thân của họ, miễn sao họ có thực tài và có lòng yêu nước, có nhiệt tình đóng góp cho đất nước. Chỉ rõ lực cản đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân là bởi tại Chính phủ, ở những người lãnh đạo từ cấp cao nhất quốc gia trở xuống. Và trong những năm tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác đã ban hành Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công chức, thể hiện rõ tư tưởng về sự tôn vinh tài năng, đạo đức và yêu cầu về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài[2].

 

Năm 1950, Bác đã chỉ thị phải tuyển chọn những thanh niên có đủ những tiêu chí cần thiết, gửi sang Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu học tập để đào tạo thành trí thức bậc cao cho đất nước; quyết định mở Trường khoa học cơ bản, Trường sư phạm cao cấp... để tạo dựng một lớp người có tài có đức, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khi hòa bình lập lại. Bác cho rằng một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết. Đi đôi với việc tìm người tài, đức giúp ích cho đất nước, Bác yêu cầu người lãnh đạo, quản lý phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm "thui chột" nhân tài. Người cho rằng phải biết chăm lo phát hiện nhân tài, phải biết đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và phải biết sử dụng nhân tài một cách hợp lý.

 

Có thể thấy, trọng dụng nhân tài là truyền thống của dân tộc Việt Nam ta qua lịch sử bao đời. Ngày nay, trong kỷ nguyên văn minh trí tuệ với kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa, việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài có vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược hát triển của nước ta. Tuy nhiên, việc phát hiện, tuyển chọn đội ngũ cán bộ tài năng cũng là công việc đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức với cái nhìn thực sự công tâm, sáng suốt. Đặc biệt là việc chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nhân tài trẻ tuổi, làm phát lộ sớm những mầm mống tài năng và cả những thiên tài trong tương lai. Đây là công việc không đơn giản. Nên công tác trọng dụng nhân tài trước yêu cầu phải thực hiện đột phá để phát triển nhanh và bền vững, bao quát cả một hệ vấn đề rộng lớn và phức tạp. Đó là giáo dục nhận thức và hình thành dư luận xã hội tích cực, đồng thuận, sao cho toàn dân, cả nước, cả dân tộc đều quan tâm tới nhân tài. Đổi mới nhận thức xã hội về vấn đề nhân tài đòi hỏi trước hết sự đổi mới nhận thức mạnh mẽ trong Đảng và Nhà nước, trong cơ quan lãnh đạo cấp cao, ở tầm vĩ mô, chiến lược, trong các cơ quan tổ chức hoạch định chính sách. Đó còn là công phu tổ chức thực hiện chính sách, xác định thể chế, tìm tòi cơ chế tạo động lực phát triển các tài năng, thu hút trọng dụng nhân tài, trọng đãi hiền tài, đào tạo bồi dưỡng, phát hiện nuôi dưỡng những tài năng, có tầm nhìn và hành động.

 

Bên cạnh việc thu hút, trọng dụng nhân tài cũng phải tránh một số việc như: quá "nuông chiều" nhân tài, bố trí, sử dụng không hợp lí nhân tài; hoặc không biết cách sử dụng nhân tài … Nếu "nuông chiều" nhân tài, thì "nhân tài" dễ chủ quan, tự kiêu, tự phụ, dễ hư hỏng về phẩm chất đạo đức; mà người xưa đã đúc kết: "kiêu binh tất bại". Nếu "thả mặc" nhân tài thì họ dễ tự do vô kỷ luật, tuỳ tiện, vi phạm nguyên tắc, chế độ; thậm chí dễ "làm liều" gây tổn hại khôn lường cho đất nước, cho cơ quan, tổ chức. Nếu không sử dụng hợp lí nhân tài; không bố trí công việc phù hợp thì họ sẽ dễ sinh ra tư tưởng chán nản, bỏ bê công việc, không chú tâm vào công việc; như vậy hiệu quả công việc sẽ giảm; cơ quan, tổ chức lãng phí nguồn nhân lực; mà bản thân nhân tài cũng lãng phí kiến thức, năng lực của mình.

 

Thiết nghĩ, cần phải có một chiến lược người tài đúng đắn, bền vững, lâu dài trong tổng thể chiến lược con người nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước; kế thừa những truyền thống trọng dụng nhân tài tốt đẹp của cha ông ta từ ngàn xưa.

 


[1] Câu nói được khắc trên Văn bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta

[2] Trong đó, ở Điều 14, Sắc lệnh nêu rõ:

Điều 14: Việc tuyển bổ công chức chỉ căn cứ vào năng lực (thành tích, kinh nghiệm, trình độ văn hoá) xét theo ba cách sau này:

a) Qua kỳ thi;

b) Theo học bạ hay văn bằng;

c) Theo đề nghị của Hội đồng tuyển trạch.


Tìm kiếm

Quản lý video Quản lý video

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 0 2 0 4 8 8 0 5
Hôm nay: 531
Hôm qua: 15.662
Tuần này: 47.556
Tháng này: 47.556
Tổng cộng: 2.048.805

LIÊN KẾT WEBSITE LIÊN KẾT WEBSITE

               

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ NỘI VỤ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: Tầng 10 Trung tâm Hành chính thành phố Đà Nẵng, 24 Trần Phú, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0236 3821253     Fax: 0236 3829900    E-mail: snv@danang.gov.vn

Ghi rõ nguồn phát hành https://noivu.danang.gov.vn khi sử dụng nội dung từ website này

Giấy phép số: 401/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 09/10/2014

Đăng nhập/a>