MỘT SỐ HẠN CHẾ VƯỚNG MẮC TRONG QUẢN LÝ NGƯỜI QUẢN LÝ VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Người đăng tin: Admin Nội vụ Ngày đăng tin: 23/03/2020 Lượt xem: 8


    Hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” và các chủ trương của Đảng về doanh nghiệp nhà nước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã được thu gọn hơn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt. Cơ chế hoạt động của doanh nghiệp đã có bước đổi mới. Hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh được nâng lên. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường … Tuy nhiên, vai trò của doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của nhiều doanh nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư; cơ cấu quản trị doanh nghiệp nhà nước chậm được đổi mới, kém hiệu quả; trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp nhà nước chưa rõ ràng; công tác cán bộ, chính sách tiền lương còn bất cập.

   

    Những hạn chế, yếu kém nêu trên của doanh nghiệp nhà nước do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan. Một trong những nguyên nhân đó là công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập, hạn chế.

   

    1. Công tác quản lý đối với người quản lý và người đại diện phần vốn góp nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữa trên 50% vốn điều lệ hiện đang thực hiện theo Luật Doanh nghiệp và 02 Nghị định: Nghị định số 97/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (viết tắt là Nghị định số 97/2015/NĐ-CP);; Nghị định số 106/2015/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về quản lý người đại diện phần vốn nhà nước giữ các chức danh quản lý tại doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ (viết tắt là Nghị định số 106/2015/NĐ-CP).

 

    Nghị định số 97/2015/NĐ-CP và Nghị định số 106/2015/NĐ-CP đã từng bước củng cố cơ sở pháp lý để quản lý tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, công tác cán bộ tại doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần đã được các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp đồng tình và được áp dụng thực hiện có hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay trong quá trình thực hiện cho thấy một số quy định còn có nội dung chưa phù hợp với quy định mới của Đảng, Nhà nước và thực tiễn.

  

    2. Các Nghị định này quy định đối tượng áp dụng là người quản lý doanh nghiệp và người đại diện tại doanh nghiệp có vốn góp nhà nước 50-100%. Việc ban hành các Nghị định đã có nhiều đổi mới so với Nghị định số 66/2011/NĐ-CP khi không còn áp dụng Luật Cán bộ, Công chức mà quy định tách bạch công tác quản lý người quản lý doanh nghiệp theo tinh thần Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, Nghị định số 97/2015/NĐ-CP và Nghị định số 106/2015/NĐ-CP lại bỏ sót đối tượng người đại diện tại doanh nghiệp có vốn góp nhà nước dưới 50%. Trên thực tế, ở cấp địa phương vẫn còn một số doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 30-50% vốn. Thời gian qua, công tác quản lý người đại diện tại các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn do không có quy định cụ thể nên nhiều địa phương phải vận dụng Nghị định số 106/2015/NĐ-CP để thực hiện.

 

    Bên cạnh đó, hiện nay các quy định về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp đã thay đổi cách phân loại đối tượng quản lý. Nghị định số 10/2019/NĐ-CP được ban hành thay thế Nghị định số 99/2012/NĐ-CP quy định 02 nhóm đối tượng: (1) công ty có vốn nhà nước trên 36% và (2) công ty có vốn nhà nước dưới 36%. Việc phân nhóm doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên và dưới 50% vốn điều lệ không còn phù hợp với Nghị định số 10/2019/NĐ-CP (mang tinh thần tăng cường quản lý đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước từ 36-50% so với quy định trước đây).

 

    Ngoài ra, với việc đẩy mạnh cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập, số lượng doanh nghiệp có vốn góp nhà nước dưới 36% sẽ tăng trong thời gian tới. Trong tình hình công tác quản lý dịch vụ công ích yêu cầu có sự tham gia của nhà nước để đảm bảo an sinh xã hội, việc thoái hết vốn nhà nước cần có thời gian nghiên cứu và cân nhắc lâu dài. Theo đó, số lượng đối tượng quản lý là người đại diện tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 36% sẽ tăng so với trước đây.

 

    3. Về Người được cử tham gia Ban Kiểm soát tại công ty cổ phần có vốn góp nhà nước. Hiện nay, chỉ có Nghị định số 97/2015/NĐ-CP quy định quản lý Kiểm soát viên; Nghị định số 106/2015/NĐ-CP không quy định việc quản lý người được nhà nước cử tham gia Ban Kiểm soát. Tuy nhiên, thực tế cho thấy khi cử người đại diện quản lý phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần (tham gia Hội đồng quản trị), cơ quan đại diện vốn nhà nước thường cử công chức tham gia Ban Kiểm soát (làm việc không chuyên trách) để thay mặt cổ đông nhà nước thực hiện công tác kiểm soát doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp.

 

    4. Về kiểm soát viên: Hiện nay tại các địa phương có một số Công ty TNHH MTV 100% vốn nhà nước có quy mô nhỏ, công tác kế toán, tài chính không phức tạp, không nhất thiết điều động công chức sang làm Kiểm soát viên chuyên trách tại công ty. Tuy nhiên, Điều 103 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định Kiểm soát viên “Không phải là người lao động của công ty” nên địa phương gặp khó khăn trong công tác giới thiệu nhân sự để bổ nhiệm. Trong khi đó, Nghị định số 97/2015/NĐ-CP quy định người quản lý doanh nghiệp (bao gồm cả Kiểm soát viên) không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp. Quy định này trói buộc nguồn nhân sự quản lý doanh nghiệp, chỉ còn 01 phương án duy nhất là điều động cán bộ công chức sang doanh nghiệp. Thực tế, rất hiếm cán bộ công chức có nhu cầu, nguyện vọng chuyển công tác sang doanh nghiệp.

 

    5. Về quy hoạch: Nghị định 106/2015/NĐ-CP chủ yếu quy định việc cử, cử lại, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, bầu, miễn nhiệm, bổ nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu mà không quy định công tác quy hoạch đối với người đại diện.

 

    Trong thời gian đến, thực hiện nhiệm vụ: “Quy định việc tách người quản lý doanh nghiệp nhà nước khỏi chế độ viên chức, công chức. Triển khai cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm qua thi tuyển cạnh tranh, công khai, minh bạch đối với tất cả các chức danh quản lý, điều hành trong doanh nghiệp. Hoàn thiện và thực hiện cơ chế miễn nhiệm, bãi nhiệm, tạm đình chỉ chức vụ của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong doanh nghiệp do mình quản lý, phụ trách” được nêu trong Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 02/10/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; nhằm cụ thể các nội dung quản lý cán bộ tại Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017 của Bộ Chính trị; cần sớm có Nghị định mới quy định về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp nhà nước để khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

Trà Hoa Nữ



Tìm kiếm

Quản lý video Quản lý video

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 0 1 5 0 9 7 6 3
Hôm nay: 1.979
Hôm qua: 2.918
Tuần này: 0
Tháng này: 17.694
Tổng cộng: 1.509.763

LIÊN KẾT WEBSITE LIÊN KẾT WEBSITE

               

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ NỘI VỤ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: Tầng 10 Trung tâm Hành chính thành phố Đà Nẵng, 24 Trần Phú, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0236 3821253     Fax: 0236 3829900    E-mail: snv@danang.gov.vn

Ghi rõ nguồn phát hành https://noivu.danang.gov.vn khi sử dụng nội dung từ website này

Giấy phép số: 401/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 09/10/2014

Đăng nhập/a>